Nội dung bài viết
Ngày 14/6, trong báo cáo thẩm tra đề án cải tạo Hồ Tây đang được quan tâm rộng rãi, HĐND Thành phố Hà Nội khẳng định Hồ Tây là "không gian mặt nước có giá trị cảnh quan, văn hóa tâm linh và sinh thái đặc biệt", đồng thời yêu cầu đánh giá tác động môi trường, giảm thiểu ảnh hưởng tới hệ sinh thái tự nhiên.
Báo cáo cũng yêu cầu đánh giá đầy đủ tác động tới các di tích và "có giải pháp bảo tồn cảnh quan hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa xung quanh Hồ Tây", biến nơi đây thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới không gian di sản của Thủ đô.
Đây là yêu cầu rất xác đáng bởi khu vực này tập trung tới hơn 70 di tích lịch sử, văn hóa và tôn giáo, trong đó khoảng 24 di tích cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt, như danh thắng chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ hay đền Quán Thánh.
Ngoài việc đề cập "di tích" nhiều lần, báo cáo cũng sử dụng các khái niệm "cảnh quan" và "hệ thống", những từ mang tính bao trùm hơn. Nhưng câu hỏi cốt lõi là: "cảnh quan hệ thống các di tích lịch sử" cần bao gồm những gì?
Chỉ bản thân các di tích, hay cả hệ cảnh quan đất, nước bao quanh và kết nối chúng? Kiến trúc các di tích bên hồ vốn được bố trí phong thủy tinh tế với cảnh quan xung quanh như một tổng thể không thể tách rời.
Một ngôi chùa ven hồ không chỉ là kiến trúc mà còn là toàn bộ không gian rộng lớn bao quanh, với mặt nước làm "ngoại minh đường" tụ thủy, sân vườn và thế đất, đường vào và lối ra, huyền tích và tâm linh, cùng bao ký ức tích tụ qua nhiều thế hệ.
Tách ngôi đền khỏi hệ cảnh quan ấy, ta vẫn giữ được công trình nhưng đánh mất ý nghĩa hệ không gian. Thế nhưng, dải đất và mặt hồ lại thường được xem chỉ như là phông nền cho những ngôi chùa cổ hay mái đình ven bờ.
Dòng chảy lịch sử và địa lý đô thị diễn ra theo chiều ngược lại: mặt hồ và thế đất có trước công trình. Kinh qua nhiều tên gọi như Xác Cáo, Dâm Đàm, Lãng Bạc hay Tây Hồ, nơi đây đã hiện diện trong ký ức người Việt hơn một nghìn năm.
Từ thời Lý, Trần, hồ đã gắn với đời sống cung đình và văn hóa kinh thành, có trước phần lớn công trình nổi tiếng quanh hồ ngày nay. Chính hồ tạo nên địa thế và điều kiện để định cư, thờ tự, sinh sống.
Những ngôi chùa, đền, phủ, làng nghề và huyền tích quanh Hồ Tây hình thành từ mối quan hệ lâu dài giữa con người và mặt nước này. Hồ cũng là nguồn cảm hứng bền bỉ cho thơ ca, âm nhạc và hội họa qua bao thời đại.
Vì thế, Hồ Tây không phải phần nền của các di tích. Hồ Tây là thực thể đã sinh ra, kết nối, nuôi dưỡng và định hình toàn bộ không gian văn hóa quanh nó.
Hồ là nhân vật trung tâm, là lõi của vùng di sản. Nhưng theo thời gian, chính những lớp văn hóa ấy lại che khuất nơi đã tạo ra chúng.
Người đời sau nhìn thấy các di tích mà quên mất cảnh quan đã làm nên hệ thống di tích ấy. Đó là điều thế giới gọi là "cảnh quan văn hóa" (cultural landscape), nơi giá trị di sản không nằm ở từng công trình riêng lẻ mà ở chỉnh thể được tạo nên bởi thiên nhiên và con người.
Hồ Tây còn thuộc về một dạng di sản đặc biệt hơn: những không gian sản sinh di sản. Hồ Tây không chỉ là thứ lịch sử để lại, nó là không gian đã tạo điều kiện để lịch sử được hình thành.
Trên bản đồ quản lý di sản của Hà Nội, từng di tích được đánh dấu rõ nét. Trong khi đó, mặt nước, vùng ven hồ và các mối liên kết cảnh quan giữa chúng lại gần như vô hình.
Luật có thể bảo vệ ngôi chùa. Nhưng chưa thực sự bảo vệ thế đất và cảnh quan đã tạo nên ngôi chùa ấy.
Khoảng không gian nằm giữa các di tích, mặt nước, vùng ven hồ và các tuyến kết nối cảnh quan, vẫn nằm ngoài logic bảo tồn truyền thống.
Vì vậy, một dự án hạ tầng có thể không tác động trực tiếp tới từng ngôi đền được xếp hạng nhưng vẫn làm thay đổi căn bản tính toàn vẹn (integrity) của toàn bộ cảnh quan.
Hai cái hồ cùng tên, diện tích tương đương, đều tích tụ dày đặc di tích lịch sử và ký ức văn hóa, nhưng đã đi theo những quỹ đạo phát triển khác nhau.
Năm 2011, Tây Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và đón hàng chục triệu lượt khách mỗi năm, không phải vì giá trị của những công trình kiến trúc đơn lẻ.
Cả quần thể được vinh danh bởi giá trị đặc sắc của một "cảnh quan văn hóa", nơi kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên, thơ ca, hội họa và đời sống xã hội được nhìn nhận và tôn vinh như một chỉnh thể thống nhất. Điều khiến Hồ Tây khác căn bản với Tây Hồ nằm ở cách người ta định nghĩa thứ cần được bảo vệ.
Đây không chỉ là câu chuyện của riêng Hồ Tây mà có thể là một vấn đề phổ biến hơn: con người nhìn thấy các giá trị di sản nhưng không nhìn thấy môi trường đã sinh ra và nuôi dưỡng chúng.
Những tranh luận hiện nay về đường ven hồ, bến thuyền hay quảng trường thực chất chỉ là phần nổi của một câu hỏi lớn hơn nhiều: Hồ Tây rốt cuộc là gì? Một hồ nước đô thị, một danh lam thắng cảnh, một tài sản sinh thái, một cảnh quan văn hóa hay một tổ hợp di sản vô tiền khoáng hậu?
Mỗi cách định nghĩa sẽ dẫn tới một cách ứng xử và phát triển khác nhau đối với không gian đất, nước ven hồ, lớp không gian trọng yếu sống còn.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.