Nội dung bài viết
Các bài đăng từ chủ đề này sẽ được thêm vào thông báo email hàng ngày và nguồn cấp dữ liệu trang chủ của bạn. Các bài đăng từ chủ đề này sẽ được thêm vào thông báo email hàng ngày và nguồn cấp dữ liệu trang chủ của bạn.
Ứng dụng chia sẻ tập tin này ra mắt cách đây 25 năm và đã gây ra một làn sóng vi phạm bản quyền khiến Hollywood rung chuyển tận cốt lõi. Các bài đăng của tác giả này sẽ được thêm vào thông báo email hàng ngày và nguồn cấp dữ liệu trang chủ của bạn.
Các bài đăng của tác giả này sẽ được thêm vào thông báo email hàng ngày và nguồn cấp dữ liệu trang chủ của bạn. Twenty-five years ago today, a young, little-known programmer by the name of Bram Cohen fired off a short message to a mailing list for peer-to-peer enthusiasts.
Cohen viết: “Ứng dụng mới của tôi, BitTorrent, hiện đang hoạt động bình thường, hãy xem thử tại đây,” Cohen viết, kèm theo một liên kết đến trang web cá nhân của anh ấy. “What’s BitTorrent, Bram?” the founder of the list asked in response.
Cohen never bothered to reply. The world would find out soon enough.
In the following years, BitTorrent quickly became the world’s most popular file-sharing app, unleashing a massive wave of piracy that upended Hollywood forever.
At one point, BitTorrent was said to be responsible for a huge amount of internet traffic — some widely cited metrics peg it at half of P2P and one -third of all internet traffic in 2004.
And while the entertainment industry succeeded in shutting down file-sharing systems like Napster and Kazaa, it largely failed to curtail the massive flood of BitTorrent piracy.
Điều khiến các hãng phim và hãng thu âm cản trở chính là điều khiến câu chuyện về lễ kỷ niệm 25 năm thành lập BitTorrent trở thành một câu chuyện hấp dẫn. Có BitTorrent, ứng dụng mà Cohen giới thiệu vào tháng 7 năm 2001 và vẫn tiếp tục thu hút hàng chục triệu người dùng hàng tháng cho đến ngày nay.
There’s BitTorrent, the file-sharing protocol, which has been adopted and advanced by hackers and developers from around the world, and which helped birth an entire cottage industry of piracy websites.
Và có BitTorrent, công ty do Cohen đồng sáng lập, đã phải vật lộn trong nhiều năm để kiếm tiền bằng công nghệ của mình. “Đi sâu vào vấn đề này, kế hoạch của tôi không phải là khởi nghiệp kinh doanh,” Cohen nhớ lại.
“My plan was to start a revolution.” Đây là câu chuyện về cuộc cách mạng đó và tất cả những gì còn sót lại cho đến ngày nay.
Cohen started working on BitTorrent soon after leaving Mojo Nation, a startup that had ambitious plans to combine file sharing, distributed computing, and micropayments, only to shut down in 2002 without ever reall y getting off the ground.
Cohen đã giúp Mojo Nation nâng cao hiệu quả của công nghệ chia sẻ tệp.
His approach was to use something called swarming distribution: Instead of swapping large files between a few users at a time, the app would divide each file into lots of little chunks, and then allow large numbers (or swarms) of users to trade those chunks among themselves.
Đặc tính chia sẻ đã được tích hợp vào phần mềm, nhấn mạnh rằng người dùng sẽ giúp tải tệp lên thay vì chỉ tải chúng xuống một cách ích kỷ. Cohen vỡ mộng trước sự thất bại của Mojo Nation nhưng vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ công nghệ cơ bản.
“I decided to make a tool that very narrowly just did swarming distribution and nothing else, because that was a thing I knew how to do,” he says. "Kế hoạch của tôi không phải là khởi nghiệp kinh doanh.
Kế hoạch của tôi là bắt đầu một cuộc cách mạng." Tất cả điều này xảy ra khi các công ty P2P và chia sẻ tệp đang phải đối mặt với những cơn gió ngược lớn.
Ngành công nghiệp âm nhạc đã kiện Napster vào cuối năm 1999 và cuối cùng buộc nó phải đóng cửa vào khoảng thời gian Cohen phát hành BitTorrent lần đầu tiên.
Vài tháng sau đó, làng giải trí khởi kiện Kazaa và Grokster, kéo theo đó là các vụ kiện pháp lý chống lại Audiogal axy , LimeWire , eDonkey và các hệ thống chia sẻ tệp khác. BitTorrent was different.
Ngay từ đầu, Cohen đã xây dựng ứng dụng không có chức năng tìm kiếm, thay vào đó dựa vào các trang web của bên thứ ba để khám phá nội dung.
He also didn’t run a centralized server to help users discover other BitTorrent clients to trade content with, and instead outsourced that piece of the puzzle to so-called tracker servers.
Websites dedicated to BitTorrent file sharing would offer a metadata file (the torrent file) for every download, which in turn pointed users to tracker servers that matched up users to facilitate the sharing.
Nói một cách đơn giản, BitTorrent là một ứng dụng giúp mọi người giao dịch dữ liệu, nhưng nhà phát triển ứng dụng này không có cách nào biết được dữ liệu đó là gì.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.