Nội dung bài viết
TP Huế Để thưởng thức nhã nhạc cung đình, vua Tự Đức cho xây dựng nhà hát Minh Khiêm Đường ngay trong Khiêm Cung, nơi được xem là “hoàng cung thứ hai” của triều Nguyễn.
Theo sử sách triều Nguyễn, năm 1864, vua Tự Đức bắt đầu tiến hành xây dựng Vạn Niên Cơ ở khu vực gần đồi Vọng Cảnh, phường Thủy Xuân ngày nay để làm nơi nghỉ ngơi. Khu vực này được bao phủ rừng thông, gần với sông Hương.
Nhà vua giao việc xây dựng Vạn Niên Cơ cho Bộ Công tiến hành, Thị lang Nguyễn Bỉnh cùng Biện lý Nguyễn Văn Chất cùng thống chế Lê Văn Xa chỉ huy xây dựng.
Theo kế hoạch của Bộ Công, công trình dự kiến mất khoảng 6-7 năm hoàn thành, với sự tham gia khoảng 3.000 lính và thợ, các lính và thợ sẽ được thay phiên nhau nghỉ 3 tháng một lần.
Năm 1865, Nguyễn Văn Chất và Lê Văn Xa đã tâu xin vua Tự Đức đẩy nhanh tiến độ, xây dựng công trình xong trong vòng 3 năm. Việc đẩy nhanh tiến độ đã vắt kiệt sức thợ không được nghỉ ngơi, xảy ra cuộc khởi nghĩa của lính và thợ do anh em Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực, Đoàn Hữu Ái lãnh đạo.
Binh khí nghĩa quân sử dụng là chày vôi, đánh thẳng vào hoàng cung. Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa, vua Tự Đức đã cho đổi tên Vạn Niên Cơ thành Khiêm Cung.
Nhà hát Minh Khiêm Đường trước lúc hạ giải. Ảnh tư liệu Khiêm Cung cơ bản hoàn thành vào năm 1867 với quy mô hơn 50 hạng mục lớn nhỏ như cung điện, đình tạ, hồ nước, đảo cảnh và các công trình phục vụ sinh hoạt, nghỉ dưỡng của nhà vua.
Trong đó, Minh Khiêm Đường được xây dựng vào năm 1865, là một trong những công trình đặc biệt nhất. Nhà hát này được thiết kế chuyên biệt để phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của vua Tự Đức, người nổi tiếng yêu văn chương, âm nhạc và sân khấu.
Vua Tự Đức thường xuyên lui tới đây nghỉ ngơi. Trong những lần ngự giá lên Khiêm Cung, vua Tự Đức thường tổ chức biểu diễn nhã nhạc, ca múa và đặc biệt là tuồng, loại hình sân khấu đạt đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn.
Hơn 40 năm trước, nhà nghiên cứu Phan Thuận An khảo cứu, đánh giá Minh Khiêm Đường là tòa nhà ba gian hai chái, hai hiên, dựng trên nền hình chữ nhật dài 27,57 m, rộng 18,15 m, nền cao 0,65 m, lát gạch Bát Tràng và bó vỉa đá thanh.
Phần nền chái phía tây cao hơn phía đông 0,2 m, nơi đặt ngự tọa cho vua xem. Hai mặt trước sau có 5 hệ thống bậc cấp bằng đá, chạm khắc hình kỷ lân mềm mại.
Công trình cao khoảng 7 m, với hệ thống cột gồm 6 hàng dọc, 8 hàng ngang. Điểm đặc sắc nằm ở trần gỗ rộng khoảng 40 m2, được trang trí thành một "bầu vũ trụ" với mặt trời, mây và khoảng 50 vì tinh tú bằng đồng bọc thủy tinh, tạo hiệu ứng ánh sáng lung linh khi thắp đèn.
Bao quanh nhà là tường gạch che ba mặt chái, mở 7 cửa sổ và 3 cửa lớn thông thoáng. Hai mặt trước sau của gian giữa lắp hệ cửa gỗ.
Mái lợp ngói ống thanh lưu ly, bờ nóc trang trí hình bát quái bằng đồng, hai đầu đắp hình lá hóa rồng bằng sành sứ, đầu hồi gắn họa tiết khánh men xanh. Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, không gian nội thất Minh Khiêm Đường được chia thành ba phần gồm sân khấu, hậu trường và khán đài.
Sân khấu nằm ở ba gian giữa với một gác nhỏ, sàn cao 2,7 m, phía trước có lan can, phía sau có cầu thang cho diễn viên lên xuống. Các móc sắt phía trước dùng để kéo màn.
Phía sau là hậu trường, gồm các phòng hóa trang, đặt kệ và đạo cụ phục vụ biểu diễn. Đối diện sân khấu là khán đài dành cho vua và đoàn tùy tùng, đặt trên một bục thấp ở chái phía tây.
Ngự tọa nằm chính giữa, dưới tấm hoành phi đề tên công trình, hướng thẳng ra sân khấu, tạo góc nhìn thuận lợi để thưởng thức các buổi diễn. Sau khi vua Tự Đức qua đời năm 1883, Khiêm Cung được đổi tên thành Khiêm Lăng theo di nguyện của nhà vua.
Nhiều phi tần của vua Tự Đức cũng lên khu vực Khiêm Lăng sinh sống để hương khói.
Nhà nghiên cứu Phan Thuận An lúc đó đánh giá, trước năm 1975, các công trình kiến trúc khác trong lăng Tự Đức được tu sửa khá nhiều lần song trong những danh sách ghi tên các hạng mục công trình kiến trúc được trùng tu, bấy giờ lại không thấy có Minh Khiêm Đường.
Do đó, vào thời điểm năm 1975, nhà hát này ở trong tình trạng hư hỏng khá nặng, mái bị dột, một vài cột chính trong nhà bị mục đã phải chống đỡ tạm thời. Nhiều pano trang trí bằng gỗ trên các liên ba đã bị bong rơi và mất hẳn từ lâu về trước.
Năm 1978, Pierre Pichard, một chuyên gia của UNESCO, khi đến tìm hiểu tình hình di tích ở Huế, đã ghi nhận rằng Minh Khiêm Đường bấy giờ đang ở trong tình trạng hư hỏng 60%.
Ông Pierre Pichard đánh giá rất cao về nhà hát Minh Khiêm Đường nên đến năm 1978, ông đã đưa Minh Khiêm Đường vào hạng ưu tiên I trong danh sách các di tích Huế sẽ được tu sửa đợt đầu tiên do UNESCO vận động sự tài trợ của quốc tế.
Sau đó, Ban Quản lý Di tích Huế đã cho triệt giải phần mái trên 3 gian chính và lợp tạm lại bằng tôn do UNESCO viện trợ để bảo đảm phần khung gỗ còn lại bên trong, chờ ngày tu sửa.
Cơ quan quản lý di tích Huế đã nhiều lần dùng hàng chục cây gỗ và cây tre để chống đỡ cấp thiết, chằng chéo tạm thời để cho ngôi nhà đứng vững. Dù đã gia cố như thế, nhưng vì tuổi thọ của tường gỗ khá cao, cho nên tình trạng di tích này xuống cấp nhanh, có thể sập đổ bất cứ lúc nào.
Có thời điểm, trước cửa Minh Khiêm Đường phải gắn thêm biển cấm không cho du khách vào tham quan trong nội thất, để tránh nguy hiểm. Năm 1990.
Minh Khiêm Đường được đánh giá hư hỏng khoảng 80%.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.