Nội dung bài viết
Trước khi thử nghiệm ở Thung lũng Silicon những nguyên mẫu đầu tiên, Ernst Dickmanns đã đưa một chiếc ô tô tự lái xuống đường vào những năm 1980.
SAN FRANCISCO (KGO), Cuộc đua phát triển ô tô không người lái đã có từ lâu trước Thung lũng Silicon và các công ty công nghệ cao đang thống trị ngành công nghiệp ngày nay.
Nhiều thập kỷ trước khi xe tự hành cạnh tranh trong các thử thách sa mạc tốc độ cao, một nhóm nhỏ kỹ sư ở Đức và Hoa Kỳ đã âm thầm xây dựng nền tảng của công nghệ xe tự lái.
NGÀY MAI KHÔNG CÓ NGƯỜI LÁI: Khám phá những chiến thắng, những thất bại và những đổi mới định hình tương lai không người lái Nhiều nhân vật nổi tiếng, chẳng hạn như Karl Benz, Henry Ford và Enzo Ferrari, đã định hình nên ô tô hiện đại.
Nhưng khi nói đến xe tự lái, lại xuất hiện một loạt cái tên khác, bao gồm Ernst Dickmanns, Red Whittaker, Sebastian Thrun, Chris Urmson và Anthony Levandowski.
Một số nhà đổi mới này lần đầu tiên thu hút được sự chú ý rộng rãi trong DARPA Grand Challenges, một loạt các cuộc đua xe tự hành do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ phát động vào năm 2004 nhằm đẩy nhanh tiến bộ trong công nghệ xe tự lái.
Tuy nhiên, nhiều năm trước những cuộc thi đó, Dickmanns và nhóm của ông đã thử nghiệm xe tự hành les trên đường công cộng. Ông nói: “Tôi là Ernst Dickmanns và tôi là người đầu tiên đưa ô tô tự lái xuống đường vào đầu những năm 1980.
Năm nay đã gần 90, Dickmanns sống ở một thị trấn nhỏ gần Munich, cách xa các trung tâm công nghệ của Mỹ. Anh ấy hiếm khi nói công khai về công việc của mình, nhưng những đóng góp của anh ấy đã giúp định hình cách các phương tiện tự hành “nhìn” thế giới.
Dickmanns đi tiên phong trong thị giác máy tính động, công nghệ cho phép máy móc diễn giải hình ảnh chuyển động trong thời gian thực.
Trong những năm 1960 và 1970, ông làm việc với Cơ quan Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Đức, phân tích quỹ đạo tên lửa, áp dụng các kỹ thuật xử lý hình ảnh vào thời điểm sức mạnh máy tính bị hạn chế nghiêm trọng.
“Chà, ở Oberpfaffenhofen, tôi đã giữ chức quyền giám đốc của Trung tâm vào năm 1974/75,” Dickmanns nói, mô tả việc ông sớm tiếp xúc với việc đánh giá hình ảnh từ vệ tinh và máy bay.
Khi hiệu suất của bộ vi xử lý được cải thiện nhanh chóng, ông kết luận rằng việc phân tích hình ảnh thời gian thực cho các phương tiện giao thông sẽ trở nên khả thi trong thời gian ông còn sống.
Vào giữa những năm 1980, Dickmanns và một nhóm kỹ sư nhỏ ở phía nam Munich đã biến một chiếc xe tải Mercedes-Benz thành một chiếc xe tự lái. Sử dụng bộ xử lý Intel đời đầu và nhiều camera, xe van có thể đánh giá hình ảnh 10 đến 12 lần mỗi giây.
Dickmanns nói: “Và chúng tôi là những người đầu tiên thực sự vận hành những bộ điều khiển phương tiện này trong thời gian thực vào năm 1986”.
Nhóm của ông sau đó đã chứng minh khả năng lái xe tự động ở tốc độ đường cao tốc lên tới 96 km/h trên đoạn đường cao tốc, nhanh hơn nhiều so với các dự án tương đương vào thời điểm đó.
Sự quan tâm đến các hệ thống tự hành lại tăng lên sau vụ tai nạn hạt nhân năm 1979 tại Đảo Three Mile, nơi các điều kiện nguy hiểm khiến việc dọn dẹp của con người trở nên nguy hiểm.
Năm 1983, các nhà nghiên cứu tại Đại học Carnegie Mellon đã phát triển robot bán tự động để phân tích ô nhiễm phóng xạ.
Một nhà nghiên cứu cho biết trong một bản ghi lưu trữ năm 1987: “Sự phát triển của robot hiện trường được thúc đẩy bởi nhu cầu loại bỏ con người khỏi các mối nguy hiểm và tăng năng suất, hiệu quả và chất lượng”.
Công việc đó được dẫn dắt bởi nhà chế tạo robot William "Red" Whittaker, một nhân vật quan trọng khác trong lịch sử xe tự hành.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.