Nội dung bài viết
Dự án của Đại học Bristol nhằm mục đích giúp các đạo diễn tạo ra những bộ phim hay hơn và chấp nhận rủi ro lớn hơn – với một bộ phim đã có sẵn. Thoạt nhìn, nó trông giống như bất kỳ rạp chiếu phim cao cấp nào: âm thanh vòm bùng nổ, máy chiếu 4K sắc nét và các hàng ghế ngả lưng.
Nhưng thay vì cầm bỏng ngô, một chiếc tai nghe sẽ ghi lại hoạt động não bộ của tôi và một máy đo nhịp tim quấn quanh cánh tay tôi trong khi camera hồng ngoại ghi lại từng khoảnh khắc chớp mắt và bồn chồn.
Tôi đang ngồi trong một rạp chiếu phim có một không hai ở Đại học Bristol, nơi các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu cách mọi người phản ứng với những gì họ nhìn thấy trên màn hình.
Bằng cách kết hợp phản ứng vật lý của người xem với phản hồi bằng lời nói về những phần phim mà họ thấy hấp dẫn nhất, nhóm nghiên cứu hy vọng hiểu được khoảnh khắc nào thực sự thu hút sự chú ý – và liệu thông tin chi tiết đó có thể giúp các nhà làm phim tạo ra những bộ phim hay hơn và chấp nhận rủi ro sáng tạo lớn hơn hay không.
Giáo sư Iain Gilchrist, nhà tâm lý học thần kinh tại Đại học Bristol, người đứng đầu dự án, cho biết: “Đó là một rạp chiếu phim, nhưng đối với tôi, đó cũng là một phòng thí nghiệm nghiên cứu, nơi công nghệ giúp khán giả hiểu được họ hoàn toàn đắm chìm ở điểm nào”.
Khán giả được kết nối với các cảm biến đo hoạt động của não và nhịp tim. Các camera hồng ngoại theo dõi nơi họ đang nhìn và liệu họ có đang bồn chồn hay không.
Các nhà nghiên cứu ít quan tâm đến phản ứng sinh trắc học của từng cá nhân hơn là việc xác định chính xác thời điểm mà các tín hiệu đó trở nên đồng bộ nhất – một dấu hiệu cho thấy khán giả rất quan tâm đến những gì đang diễn ra trên màn hình.
Gilchrist cho biết: “Dữ liệu chúng tôi đang thu thập ở đây sẽ cho phép chúng tôi hiểu mức độ hiểu biết của khán giả về câu chuyện được định hình như thế nào qua các cảnh cụ thể và đưa ra quyết định về việc chỉnh sửa có tác động mạnh nhất”.
Tuần này, khán giả lần đầu tiên được mời đến rạp để đo phản ứng của họ khi xem Reno, một bộ phim khoa học viễn tưởng ngắn khám phá mối quan hệ của loài người với trí tuệ nhân tạo.
Các nhóm khác nhau được xem các đoạn cắt thay thế của cùng một bộ phim và những phát hiện này sẽ được sử dụng để giúp đạo diễn Rob Hifle hoàn thiện bản chỉnh sửa cuối cùng.
Hifle cho biết thử nghiệm sẽ vô giá trong việc giúp anh hiểu cách người xem phản ứng với bộ phim, đặc biệt khi một phiên bản giảm đáng kể thời lượng xuất hiện của nhân vật trung tâm. “Sẽ thực sự thú vị khi xem khán giả tương tác với các nhân vật như thế nào và liệu tôi có hiểu được không?
câu chuyện đã đập đúng chỗ,” anh ấy nói. Anh ấy nói rằng anh ấy không lường trước được những thay đổi lớn, nhưng “một số điều nổi lên có thể là những điều mà tôi thậm chí còn chưa hình dung ra, điều này thật thú vị, bởi vì nó có thể quyết định cách tôi thay đổi cách cắt.
"Chúng tôi không coi đây là chuyện vẽ theo con số. Đó là việc sử dụng dữ liệu để giúp bộ phim gây tiếng vang tốt hơn với khán giả.
Thông thường, khi bạn biên tập một bộ phim, chỉ có bạn và biên tập viên.
Nhưng điều cần thiết là phải có thêm dữ liệu để xem liệu nó chìm hay nổi." Trong trường hợp này, anh ấy chọn sử dụng thử nghiệm đối tượng ở cuối quá trình, nhưng cho biết nó cũng có thể chứng minh được giá trị ở giai đoạn lên ý tưởng.
“Tôi chỉ có thể thấy công nghệ này đang phát triển mạnh mẽ trong toàn ngành, bởi vì mọi thứ hiện nay đều dựa vào dữ liệu khán giả, cho dù đó là sản phẩm hay phim.” Tuy nhiên, Giáo sư Amanda Lotz tại Đại học Công nghệ Queensland ở Úc, người chuyên về ngành truyền hình và phát trực tuyến, đã đặt câu hỏi liệu những công cụ như vậy có thể giải quyết được thách thức thực sự của ngành hay không.
Bà cho biết, trong bối cảnh truyền thông rất phân tán ngày nay, thành công thường phụ thuộc ít hơn vào việc cố gắng tạo ra thứ gì đó có sức hấp dẫn phổ quát mà phụ thuộc nhiều hơn vào việc xác định và tiếp cận đúng đối tượng.
“Se Ví dụ như liệu một bộ phận các cá nhân có phản ứng giống nhau hay không, người dùng phương tiện truyền thông tìm đến nó vì những lý do khác nhau. Những gì bạn chọn để thư giãn có thể khác với khi bạn muốn điều gì đó mãnh liệt hoặc đầy thử thách hoặc khi bạn đang xem cùng gia đình.
Cô cho biết cũng có sự căng thẳng giữa việc sử dụng dữ liệu phản ứng của khán giả để tối ưu hóa nội dung và việc tạo ra cách kể chuyện thực sự nguyên bản.
“Cách kể chuyện nguyên bản ưu tiên kỹ xảo và câu chuyện, chứ không phải công thức ‘50% khán giả được thử nghiệm muốn X’.” Nhưng Giáo sư Tim Smith tại Đại học Nghệ thuật London và chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Nhận thức về Hình ảnh Chuyển động cho biết dự án đã đánh dấu một bước tiến quan trọng.
Ông nói: “Trong toàn bộ lịch sử điện ảnh, các nhà làm phim đã tìm cách hiểu những quyết định mà họ đưa ra trong quá trình tạo phim tác động như thế nào đến phản ứng của khán giả, nhưng các phương pháp mà họ sử dụng lại quá thô thiển và thiếu chính xác”.
“Điều này thể hiện một tiến bộ khoa học cấp tiến có thể cung cấp những hiểu biết chính xác, từng khoảnh khắc và cung cấp cho các nhà làm phim những hiểu biết cần thiết để tạo ra tương lai của điện ảnh.” Cuối cùng, Gilchrist cho biết, công nghệ này có thể được áp dụng ngoài điện ảnh sang các hình thức truyền thông sáng tạo khác.
Anh ấy h như đã sử dụng tính năng theo dõi nhịp tim để nghiên cứu cách khán giả phản ứng với nhạc sống, nhận thấy rằng so với những người xem qua luồng trực tiếp, những người có mặt trực tiếp cho biết họ cảm thấy đắm chìm hơn và nhịp tim của họ đồng bộ chặt chẽ hơn với nhau – một dấu hiệu của sự gắn kết.
Gilchrist thừa nhận cách tiếp cận này cũng có thể thu hút các nhà quảng cáo, mặc dù ông cho biết nó phù hợp hơn với nội dung dạng dài hơn. Ông nói, quảng cáo Giáng sinh của John Lewis có thể là một ngoại lệ đáng chú ý vì nó thường có một mạch tường thuật và nhiều cảnh.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.