Nội dung bài viết
Bên cạnh yếu tố mùa vụ, thị trường trái phiếu trầm lắng trong những tháng đầu năm còn do tâm lý thận trọng của doanh nghiệp trước căng thẳng tại Trung Đông.
Thị trường trái phiếu đang trong giai đoạn trầm lắng, minh chứng qua việc chỉ có 5 đợt phát hành thành công trong tháng 3 với tổng giá trị khoảng 16.200 tỷ đồng. Lũy kế ba tháng đầu năm, các doanh nghiệp huy động 24.800 tỷ đồng qua kênh trái phiếu.
Con số này tăng 33% so với cùng kỳ, nhưng chưa bằng một nửa tháng cuối năm ngoái. Ngân hàng và bất động sản vẫn áp đảo về giá trị phát hành, chiếm tổng cộng 90%.
Phần còn lại đến từ doanh nghiệp tiêu dùng, công nghiệp và chứng khoán. Lý giải về sự trầm lắng của thị trường, nhóm phân tích VIS Rating cho rằng nguyên nhân chính đến từ yếu tố mùa vụ, do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài.
Bên cạnh đó, nhiều tổ chức phát hành có tâm lý thận trọng trong giai đoạn chờ đại hội đồng cổ đông phê duyệt kế hoạch kinh doanh. VIS Rating dự báo khối lượng trái phiếu phát hành mới trong năm nay có thể bị tác động bởi xung đột ở khu vực Trung Đông.
Theo nhóm này, giá năng lượng leo thang gây sức ép lên lạm phát, hạn chế dư địa nới lỏng tiền tệ và đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, kéo theo chi phí huy động vốn của ngân hàng và doanh nghiệp đều tăng. "Niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể suy giảm trong kịch bản xung đột kéo dài.
Điều này khiến doanh nghiệp trì hoãn các kế hoạch đầu tư, hạn chế nhu cầu phát hành và ảnh hưởng đến khả năng tái cấp vốn thông qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp", nhóm phân tích nhận định. Các ngân hàng và doanh nghiệp năm ngoái huy động gần 590.000 tỷ đồng qua kênh trái phiếu doanh nghiệp.
FiinRatings kỳ vọng năm nay con số này chạm mốc 800.000 tỷ đồng, vượt qua giai đoạn đỉnh cao hồi 2021. Ông Lê Hồng Khang, Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phân tích của FiinRatings, cho rằng có 3 động lực thúc đẩy đà tăng trưởng thị trường trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp.
Đầu tiên là hàng loạt cải cách tạo sự rõ ràng về pháp lý, củng cố niềm tin cho nhà đầu tư. Thứ hai, các ngân hàng cần huy động vốn cấp hai để đáp ứng yêu cầu về an toàn vốn.
Cuối cùng là nhu cầu tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn chuyển dịch từ ngân hàng sang trái phiếu doanh nghiệp do giới hạn tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, theo ông Khang, ngoài tập trung mở rộng quy mô phát hành, thị trường này cần phát triển theo chiều sâu.
Các khía cạnh để đánh giá độ sâu gồm sự đa dạng của doanh nghiệp phát hành, cấu trúc sản phẩm, đường cong lãi suất và mức độ minh bạch thông tin. Điều này giúp nhà đầu tư trái phiếu tăng khả năng định giá rủi ro, đồng thời cải thiện năng lực đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn của nền kinh tế.
Hiện nay, có đến 91% khối lượng phát hành bằng hình thức chào bán riêng lẻ và hơn 70% trái phiếu do các ngân hàng phát hành.
Gần 60% trái phiếu doanh nghiệp lưu hành tại Việt Nam có lãi suất thả nổi, tỷ lệ rất cao so với các thị trường trong khu vực như Malaysia 7,6%, Singapore 0,6% hay Thái Lan dưới 0,1%.
Thực tế này xuất phát từ thông lệ xác định lãi suất trên thị trường vốn Việt Nam được neo theo lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng lớn.
Theo chuyên gia, đây là nghịch lý của thị trường trái phiếu hiện nay: trái phiếu về bản chất là công cụ thu nhập cố định, nhưng trên thực tế chi phí vốn và lợi suất đầu tư biến động đáng kể theo lãi suất tiền gửi.
Gợi ý thực hành:
1. Theo dõi thông báo từ cơ quan địa phương tại California.
2. Kiểm tra nguồn chính thức trước khi chia sẻ lại thông tin.